Tiến sĩ Lò Giàng Páo, Chủ tịch Hội Hỗ trợ phát triển kinh tế miền núi VN, cho rằng phải xây dựng được quy trình chuẩn từ khâu trồng, thu hoạch, bảo quản cho đến lúc vận chuyển tới tay người tiêu dùng.
Tại tọa đàm trực tuyến với chủ đề “Phát triển nông nghiệp miền núi bền vững” do báo Dân trí tổ chức, Tiến sĩ Lò Giàng Páo, nguyên Phó Viện trưởng Viện Dân tộc – Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), Chủ tịch Hội Hỗ trợ phát triển kinh tế miền núi Việt Nam, cho rằng miền núi có địa hình bị chia cắt rất mạnh, chịu ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu, thời tiết thất thường, sạt lở liên tục. Do đó, muốn làm gì cũng phải nghiên cứu kỹ lưỡng, hiểu rõ từng vùng miền từ thuận lợi đến khó khăn để lập kế hoạch và quy hoạch cho đúng.
“Việc đưa công nghệ hay các chính sách vào vùng dân tộc thiểu số thời gian qua còn nhiều điểm chưa đồng bộ. Chúng ta phải tổng hợp, thống kê lại một cách khoa học. Chỉ khi định hướng đúng thì làm mới ra hiệu quả cao được”, ông Páo nêu quan điểm.

Nếu cứ bán nông sản tự phát sẽ rất dễ bị ép giá
Làm thế nào để khắc phục tình trạng “được mùa mất giá” và chi phí logistics quá cao đối với nông sản miền núi khi vận chuyển về các trung tâm tiêu thụ lớn?
Giải đáp thắc mắc này, Tiến sĩ Lò Giàng Páo, Chủ tịch Hội Hỗ trợ phát triển kinh tế miền núi Việt Nam, nhấn mạnh vấn đề cốt lõi vẫn phải nằm ở khâu tổ chức, cụ thể là tổ chức Hợp tác xã và tổ chức liên kết khi doanh nghiệp thu mua.
“Chúng ta phải tính toán ngay từ đầu vào, trong suốt quá trình sản xuất cho đến lúc thu hoạch, phải có nơi tiêu thụ rõ ràng. Nếu không có tổ chức mà cứ bán lẻ, bán sỉ tự phát thì rất hay bị ép giá. Mùa nào cũng vậy, nông sản nào cũng thế, kể cả cây ăn quả”, ông Páo chia sẻ.
Theo ông, nếu bán tổng thể theo một chuỗi công nghệ hay bán buôn có đường dây, tổ chức đàng hoàng mới thành công được. Bằng không, bị ép giá hoặc sản xuất ra không có chỗ bán sẽ dễ trở thành chuyện rất bình thường.
“Cho nên giải pháp tháo gỡ mà chúng tôi đi tuyên truyền là phải có tổ chức, ít nhất bà con phải lập được hợp tác xã. Nhưng thực tế không phải nơi nào cũng làm được, quan trọng là mình sản xuất cái gì và làm như thế nào. Ví dụ như người Nhật khi vào đầu tư ở Quản Bạ (Hà Giang), họ thu mua toàn bộ sản phẩm vì họ kiểm soát quy trình không phun thuốc, đảm bảo tỷ lệ chống khuẩn. Khi đạt tiêu chí kỹ thuật thì mới giữ được giá ổn định”, vị chuyên gia nêu dẫn chứng.

Tiến sĩ Lò Giàng Páo cho rằng phải xây dựng được quy trình chuẩn từ khâu trồng, thu hoạch, bảo quản cho đến lúc vận chuyển tới tay người tiêu dùng. Từng ngành hàng phải nghiên cứu rất kỹ tính chất và “tuổi thọ” của sản phẩm để vừa bảo quản chất lượng, vừa giữ được giá.
Nếu không có tổ chức rõ ràng, những câu chuyện như trồng măng hay trồng quýt ở Bắc Kạn, cứ bán tràn ra chợ rồi cuối vụ giá rớt từ 8.000 đồng xuống 5.000 đồng. Sau đó, người dân lại mang đổ đi vừa lãng phí vừa gây ô nhiễm môi trường. “Từng ngành phải nghiên cứu tính chất sản phẩm, giải pháp tốt nhất vẫn là khoa học, phải nghiên cứu bài bản”, ông Páo chỉ ra.
Cần hình thành các liên minh OCOP
Liên quan phát triển sản phẩm OCOP, Tiến sĩ Lò Giàng Páo nói nhiều vùng đã thực hiện theo đúng tiêu chí “mỗi xã một sản phẩm”. Các địa phương cũng đã phân chia, nhưng vấn đề đặt ra hiện nay là phân chia làm sao để quy trình sản xuất đạt đủ tiêu chí, đặc biệt không vi phạm tiêu chuẩn về phun thuốc trừ sâu, hóa chất. Nếu không đảm bảo được điều này thương hiệu sẽ bị hỏng ngay.
Thực tế sản phẩm OCOP hiện nay rất phong phú nhưng ông Páo đề nghị phải đưa vào đúng quy trình kỹ thuật riêng, đặc thù cho từng loại giống. Một số vùng hiện nay làm chưa chuẩn nên đầu ra rất khó khăn. Mặc dù gọi được vốn, trồng được sản phẩm nhưng trồng ra rồi lại không ai mua, đành phải bán tràn ra ngoài thị trường tự do.

Người nông dân rất khó có sẵn hệ thống điều hòa hay kho lạnh bảo quản. Chính vì thế, ông Páo cho rằng phải có các tổ chức đầu tư vào khâu bảo quản để giữ được sản phẩm trong 1-2 tháng thì mới thành sản phẩm OCOP thực sự. OCOP phải đảm bảo các tiêu chí sạch sẽ và mang đậm tính bản địa.
Chia sẻ thêm về chuyện này, Tiến sĩ Trần Đăng Khởi, Phó Trưởng khoa phụ trách Khoa Quản trị và Chính sách (Học viện Dân tộc và Tôn giáo) nhìn nhận OCOP đang đứng trước hai nguy cơ: “Lạm phát sao” và đồng dạng hóa sản phẩm.
“Chúng ta biết sản phẩm OCOP được đánh giá, phân hạng bằng hệ thống sao, từ một đến năm sao, với những tiêu chí cụ thể. Các chủ thể sản xuất đều mong muốn sản phẩm đạt thứ hạng cao hơn để bán được nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu việc đánh giá, phân hạng không chặt chẽ dễ xuất hiện tình trạng chạy theo số sao, làm giảm ý nghĩa công nhận chất lượng”, ông Khởi nêu thực tế.
Nguy cơ thứ hai, theo ông, là đồng dạng hóa. Địa phương này trồng một loại cây, địa phương khác cũng trồng cây ấy, khiến sản phẩm ngày càng giống nhau. Trong khi đó, bản chất của OCOP là “mỗi xã một sản phẩm”, phải dựa trên lợi thế, điều kiện và những nét riêng của từng địa phương…

Từ đó, Tiến sĩ Trần Đăng Khởi đề xuất 4 định hướng đột phá để nâng cao chất lượng OCOP miền núi.
Thứ nhất, cần quy hoạch lại vùng nguyên liệu OCOP gắn với đặc quyền sinh thái và bản sắc văn hóa của từng địa phương. Việc quy hoạch phải căn cứ vào khí hậu, thổ nhưỡng, tài nguyên và văn hóa để lựa chọn sản phẩm phù hợp, tránh trùng lặp.
Thứ hai, cần nâng cấp tiêu chuẩn kỹ thuật và chú trọng xây dựng câu chuyện thương hiệu cho sản phẩm. Những tiêu chuẩn cũ có thể không còn phù hợp, cần được nâng cấp để đáp ứng thị trường và xuất khẩu. Bên cạnh yếu tố kỹ thuật, chúng ta phải biết đưa văn hóa vào sản phẩm thông qua câu chuyện thương hiệu.
Thứ ba, cần hình thành các liên minh OCOP và chuỗi logistics lạnh chuyên biệt. Nhiều mặt hàng nếu không được đưa đi trong thời gian ngắn có thể hư hỏng, ảnh hưởng đến chất lượng và khả năng tiêu thụ.
Thực tế hiện nay có tình trạng “nhà nhà làm OCOP”, “người người làm OCOP”, từ thôn, bản đến xã đều có sản phẩm riêng. Nếu mỗi cơ sở hoạt động nhỏ lẻ, manh mún thì rất khó đáp ứng những đơn hàng lớn, nhất là đơn hàng từ đối tác nước ngoài.
Thứ tư, cần đẩy mạnh thương mại số và xuất khẩu tại chỗ thông qua du lịch. Bên cạnh việc giới thiệu, tiêu thụ sản phẩm trên các nền tảng số, chúng ta phải tận dụng cơ hội bán sản phẩm ngay tại những điểm đến du lịch.
“Người mua trả thêm tiền bởi họ được trải nghiệm câu chuyện gắn với sản phẩm ấy. Vì vậy, cần biết kết hợp sản phẩm OCOP với trải nghiệm du lịch để người mua không chỉ lựa chọn một món hàng mà còn cảm nhận được câu chuyện và hồn cốt của vùng đất”, ông Khởi lý giải.


